| |
Việt NamChiến lược viện trợ của Australia tại Việt Nam (bản tiếng Anh) Chương trình Viện trợ Quốc gia tài khóa 2010–11: Ước đạt 96 triệu đô la Australia Viện trợ của Australia cho Việt Nam giúp:Hỗ trợ tăng trưởng đồng đều, thông qua các hoạt động giúp Việt Nam giải quyết những thách thức trên tiến trình hội nhập kinh tế và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho dân nghèo ở nông thôn thông qua việc hỗ trợ xây dựng khoảng 60km đường bộ và kênh dẫn nối với các tuyến hành lang giao thông trọng điểm vốn cũng đang được chính phủ Australia trợ giúp trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Thúc đẩy thương mại khu vực thông qua việc hỗ trợ các dự án hạ tầng trọng điểm như Cầu Cao Lãnh ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long.
Cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ nước sạch và vệ sinh thông qua hỗ trợ chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh của Việt Nam.
Hỗ trợ đối phó với các thách thức về biến đổi khí hậu thông qua việc giúp Việt Nam nâng cao năng lực quản lý các tác động của thiên tai, tiên lượng được các ảnh hưởng có thể xảy ra trong tương lai và tìm ra các giải pháp đối phó khả thi đối với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời giúp tái tạo các khu rừng ngập mặn để bảo vệ bờ biển.
Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc tăng số lượng học bổng phát triển dành cho du học tại Australia. Trong năm tài chính 2010–11, Chính phủ Australia sẽ dành khoảng 300 học bổng dài hạn và 50 học bổng ngắn hạn cho Việt Nam.
Tham gia vào các nỗ lực của Việt Nam trên lĩnh vực đẩy mạnh hệ thống y tế nhằm chống lại HIV, các bệnh truyền nhiễm và đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế bền vững. Cung cấp hỗ trợ trên lĩnh vực Phát triển Nông thôn thông qua việc đẩy mạnh chất lượng và hiệu quả Chương trình 135 Giai đoạn II (P135-II) và hỗ trợ các cơ chế tài trợ cạnh tranh cho các hoạt động nghiên cứu phát triển trên lĩnh vực nông nghiệp. Tuyển dụng Tình nguyện viên để làm việc trên các lĩnh vực ưu tiên mà Việt Nam và Australia đồng thỏa thuận.
Hỗ trợ các hoạt động cấp cộng đồng, bao gồm thông qua các chương trình hợp tác chính giữa các Tổ chức Phi chính phủ Australia và cộng đồng địa phương.
Tăng cường Quản lý Nhà nước của các thể chế cần thiết cho một nền kinh tế thị trường cạnh tranh.
Hỗ trợ các chương trình khu vực nhằm giúp giải quyết các vấn đề kinh tế và xuyên quốc gia ưu tiên, chẳng hạn vấn đề tội phạm xuyên quốc gia, tự do hóa thương mại và giảm thiểu sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm.
Chiến lược Chương trình cho giai đoạn mới (2010-2015) hiện đang được soạn thảo. Mời tham khảo thêm trang Khu vực Tiểu vùng sông Mekông (English) Tổng quan về Việt NamViệt Nam nằm ở rìa đông của khu vực Đông Nam Á, được bao bọc bởi biển Đông, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Cam-pu-chia. Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố với thủ đô là Hà Nội. Thành phố lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh, trước đây được gọi là Sài Gòn. Ngôn ngữ phổ thông nhất là tiếng Việt (với 86% dân số sử dụng tiếng Việt). Nhóm người Kinh chiếm 86% dân số với tổng số dân hiện nay khoảng 85 triệu người; 14% dân số còn lại bao gồm 53 nhóm dân tộc thiểu số khác nhau. Sản xuất lúa gạo đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế của Việt Nam; hiện Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Việt Nam còn có các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu khác đáng kể như cà phê và cao su. Bờ biển dài và nhiều sông ngòi tạo điều kiện cho nghề đánh bắt, và gần đây là nuôi trồng thủy hải sản, phát triển; đáp ứng được cả nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Rừng chiếm 35% diện tích đất đai của cả nước, tuy nhiên khá nhiều trong số này không còn là rừng nguyên sinh nữa. Việt Nam là một trong số những quốc gia dễ bị tác động bởi thiên tai nhất trên thế giới; 70% dân số dễ chịu ảnh hưởng bởi mưa bão, lũ lụt. Mặc dù một số vùng có nhiều nước, nhìn chung nước sạch vẫn thiếu và hạn hán vẫn xảy ra ở một số vùng cao. Tình hình Phát triểnKinh tế và Chính trịViệt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế đặc biệt nhờ áp dụng chính sách Đổi mới từ năm 1986. Kể từ 1993, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội đều đạt bình quân khoảng 7,5% mỗi năm và tỉ lệ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 13% vào năm 2008. Động lực chính của tăng trưởng là quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, tự do hóa thị trường và việc làm tạo ra trong lĩnh vực tư nhân. Tuy vậy, thực tế, những thành quả của vòng đầu cải cách chính sách kinh tế đang chậm lại, đặc biệt là khi các sức ép do cạnh tranh quốc tế đang gia tăng. Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới để đối phó với sự biến động của thế giới và duy trì mức độ tăng trưởng cao để cắt giảm tỉ lệ đói nghèo. Dự đoán sẽ không có thay đổi đáng kể trong hệ thống chính trị của Việt Nam, với việc Đảng Cộng sản vẫn duy trì vai trò lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là lĩnh vực quản lý nhà nước của Việt Nam sẽ không thay đổi. Các cải cách về quản lý nhà nước ở Việt Nam rõ ràng đang được thực hiện do đòi hỏi của cải cách kinh tế và các mục tiêu an sinh xã hội. Các Thành tựu so với các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷTăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được đánh giá là ấn tượng. Kể từ năm 1993, tăng trưởng GDP thực hàng năm đạt khoảng 8,5% và tỉ lệ đói nghèo giảm từ 58% dân số xuống còn 14,7% vào năm 2007. Kết quả của tăng trưởng là nhờ tăng cường hội nhập quốc tế, tự do hóa thị trường và sự phát triển của khu vực tư nhân. Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội (SEDP) giai đoạn 2006-10 là chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm đưa đất nước trở thành quốc gia có mức thu nhập đầu người trung bình vào năm 2010, nghĩa là đạt mức bình quân thu nhập đầu người/năm là 1.050 – 1.100 đô la. SEDP có bốn trọng tâm then chốt: thúc đẩy tăng trưởng, khuyến khích quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, đẩy mạnh các lĩnh vực xã hội và hòa nhập xã hội, và quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kế hoạch này chú trọng những thành quả phát triển và các cải cách chính sách cần thiết nhằm đạt được những thành quả đó. SEDP đưa ra 12 mục tiêu phản ánh các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) được xây dựng trên cơ sở tính tới những đặc thù phát triển của Việt Nam. Việt Nam đang có những bước tiến khả quan đối với hầu hết các MDGs. Tuy nhiên, việc đạt được các mục tiêu trong các lĩnh vực như phòng chống HIV/AIDS và cung cấp các điều kiện vệ sinh môi trường thích hợp vẫn còn đòi hỏi nhiều nỗ lực vượt bậc.
Các Thách thức Phát triểnViệt Nam cần bảo vệ các thành quả của mình cũng như tiếp tục công cuộc xóa đói giảm nghèo. 50% dân số vẫn sống với mức thu nhập dưới 2 đô-la /ngày và tiếp tục dễ có nguy cơ tái đói nghèo do hậu quả của các cơn sốc kinh tế và thiên tai. Đói nghèo ở Việt Nam tập trung vào nhóm dân tộc thiểu số sống tại những vùng sâu vùng xa . Tuy nhiên, một bộ phận đáng kể người Kinh ở nông thôn cũng vẫn còn nghèo. Dù mức độ đô thị hóa ngày càng tăng, đa số dân cư nông thôn (chiếm 80% dân số) vẫn tiếp tục sống nhờ vào nghề nông (chiếm 60% lực lượng lao động). Giới vẫn tiếp tục là một vấn đề nổi cộm trong bức tranh đói nghèo ở Việt Nam. Ví dụ, tỉ lệ trẻ em gái dân tộc thiểu số được đi học vẫn thấp hơn so với số trẻ em gái người Kinh (10%) và so với số trẻ em trai dân tộc thiểu số (13%). Tuy hoàn toàn có triển vọng trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình vào các năm tới, song Việt Nam sẽ cần có những quyết định khó khăn để đạt được các mục tiêu tham vọng hơn trong việc trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc cho thấy có thể đạt được các mục tiêu cao hơn thông qua những thay đổi đầy tham vọng về chính sách và thể chế. Môi trường Viện trợ Phát triểnMặc dù Việt Nam là một trong những nước nhận Viện trợ Phát triển (ODA) nhiều nhất thế giới, với phần lớn là nguồn vốn vay ưu đãi, sự hỗ trợ này chỉ chiếm 4% Tổng Thu nhập Quốc dân của Việt Nam. Các đối tác tài trợ chính của Việt Nam là Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc. Từ năm 2005 Chính phủ Việt Nam đã Việt Nam hóa Tuyên bố Pa-ri về Hiệu quả Viện trợ với tên gọi Tuyên bố Hà Nội về Hiệu quả Viện trợ. Tuyên bố này bao gồm một số mục tiêu tới năm 2010 với tham vọng thậm chí còn cao hơn so với Tuyên bố Pa-ri. Việt Nam đã tạo ra được một bước tiến đáng kể trong việc đạt được những mục tiêu này. Tiến bộ tiếp theo trong việc thực hiện Tuyên bố Hà Nội sẽ phụ thuộc vào việc cải thiện các hệ thống mua sắm, quản lý tài chính công và đánh giá tác động xã hội và môi trường. Các câu chuyện Viện trợ và Con ngườiCác ví dụ về chương trình viện trợ của Australia đang được thực hiện ở Việt Nam (English):
Các trang web liên quan(English)
Last reviewed: 11 February, 2011 |
| About this website | Disclaimer | Privacy | Site Map | Contact Us | Website Feedback |